Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam
Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho biết, trong năm 2025, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 173 dự án mới và thực hiện 32 lượt điều
Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho biết, trong năm 2025, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 173 dự án mới và thực hiện 32 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt gần 1, 35 tỷ USD.
| Thương hiệu Unitel của Tập đoàn Viettel tại Lào. (Ảnh: congthuong.vn) |
Theo đối tác, có 36 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất là Lào với số vốn đạt 757,9 triệu USD (chiếm 53,6% tổng vốn) ; Philippines với số vốn trên 92 triệu USD (chiếm 6,8% tổng vốn) ; Đức với số vốn 78,1 triệu USD (chiếm 5,8% tổng vốn).
Xét theo lĩnh vực, dòng vốn đầu tư ra nước ngoài tập trung chủ yếu vào khu vực năng lượng và sản xuất. Trong đó, lĩnh vực sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 506,9 triệu $, chiếm 37,2% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài.
Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 300,7 triệu $, chiếm 22,1%. Lĩnh vực bán buôn, bán lẻ ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và các loại xe có động cơ khác đạt gần 130,8 triệu $, chiếm 9,6%.
Về địa bàn đầu tư, trong năm 2025 có 36 quốc gia và vùng lãnh thổ tiếp nhận vốn đầu tư từ Việt Nam. Lào tiếp tục là điểm đến lớn nhất với 773,7 triệu $, chiếm 56,8% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài. Tiếp theo là Philippines với 92 triệu $ Mỹ (6,8%); Đức 78,1 triệu $ (5,7%); Mỹ 74,5 triệu $ (5,5%) và Indonésie 69,6 triệu $ (5,1%).
Tình hình chung
Cho đến nay, Việt Nam đã có 1.991 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 23,7 tỷ USD. Trong đó, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/21 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (gần 7,1 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốn) ; nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,4 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn).
Việt Nam đã đầu tư ra 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 6,2 tỷ USD, chiếm 26,2% tổng vốn) ; Campuchia (hơn 2,94 tỷ USD, chiếm 12,4% tổng vốn) ; Venezuela (trên 1,82 tỷ USD, chiếm 7,7% tổng vốn),…
Theo các chuyên gia, bên cạnh động lực tìm kiếm thị trường mới, xu hướng các doanh nghiệp Việt tham gia sản xuất – gia công cho các thương hiệu thời trang quốc tế cũng đang thúc đẩy quá trình đa dạng hóa chuỗi sản xuất, qua đó khiến dòng vốn đầu tư ra nước ngoài gia tăng.
Theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), thời gian qua, các doanh nghiệp Việt, đã mở rộng đầu tư ra nước ngoài, gồm Indonésie, Myanmar, Bangladesh, Ai Cập, châu Phi, Mỹ Latin.
Việc đa điểm hóa sản xuất giúp giảm thiểu rủi ro chính trị và thương mại, tạo lợi thế về chi phí lao động và logistics, đồng thời nâng cao uy tín thương hiệu và giữ chân khách hàng quốc tế.
Một số doanh nghiệp may mặc đầu tư sản xuất tại Indonésie và Ai Cập đã tận dụng được lợi thế chi phí lao động thấp hơn đáng kể so với trong nước. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia có quan hệ thương mại thuận lợi với các thị trường lớn, với mức thuế quan bằng 0 hoặc rất thấp, giúp doanh nghiệp Việt tận dụng tốt các ưu đãi khi xuất khẩu. Đồng thời, chi phí vận chuyển, nguồn nguyên liệu và môi trường kinh doanh tại một số thị trường cũng phù hợp hơn cho chiến lược mở rộng quy mô và tái cấu trúc chuỗi sản xuất trong dài hạn.
Điều thú vị không chỉ do con số tỷ đô, mà còn ở chất lượng của dòng vốn này. Năm 2025 chứng kiến sự bùng nổ của vốn điều chỉnh tăng thêm (gấp 8,2 lần so với cùng kỳ). Hàng loạt doanh nghiệp như VinFast, Vinamilk, Việt Phương Group… liên tục rót thêm vốn vào thị trường Indonésie, Lào, Philippines… hoặc TH true milk tại thị trường Nga.
Có thể nói, 2025 là một năm “thăng hoa” trong lịch sử đầu tư quốc tế của tập đoàn Viettel Global với số tiền đưa về nước ước khoảng 450 – 500 triệu USD nhờ những thị trường Myanmar (Mytel), Campuchia (Metfone) và Lào (Unitel) bước vào giai đoạn khai thác lợi nhuận thuần túy. Như vậy, tổng số vốn lũy kế thu hồi về Việt Nam của Viettel Global gần 4 tỷ USD (khoảng 80% tổng vốn đầu tư thực tế đã giải ngân).
Nhắc đến thành quả đầu tư ra nước ngoài năm 2025 cũng không thể quên sự kiện ngày 15-12, VinFast khánh thành nhà máy sản xuất xe điện có diện tích 171ha, công suất thiết kế 50.000 xe/năm, tại Subang (Tây Java, Indonesia) với tổng vốn đầu tư cam kết hơn 1,2 tỷ USD, VinFast cho biết giai đoạn 1 đã giải ngân hơn 300 triệu USD. VinFast cam kết nâng tỷ lệ nội địa hóa tại Indonésie lên 40% ngay trong năm 2026, sẵn sàng cạnh tranh với các hãng xe Trung Quốc và Nhật Bản.
Không chỉ đầu tư vào các thị trường “gần gũi” hoặc có trình độ phát triển tương đương hay thấp hơn, những doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam như FPT đã mạnh dạn mua lại một số công ty tại Nhật Bản và châu Âu trong năm 2025, với chiến lược dùng vốn của mình để « mua » kinh nghiệm, tệp khách hàng và công nghệ lõi của “người đi trước”.
Theo giới phân tích kinh doanh, bước sang năm 2026, dòng vốn đầu tư ra nước ngoài dự báo chạm mốc 1,5 tỷ USD, với 2 động lực chính : năng lượng sạch và công nghệ bán dẫn.
Sự dịch chuyển này được thúc đẩy bởi những cam kết Net Zero và cuộc đua trí tuệ nhân tạo toàn cầu. Việt Nam không chỉ xuất khẩu hàng hóa, mà còn xuất khẩu mô hình quản trị và giải pháp xanh.
Cơ chế ngày càng thông thoáng
Năm 2026, một thuận lợi đáng kể là Luật Đầu tư (sửa đổi) được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vừa tạo hành lang thông thoáng hơn nhiều cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Việc bãi bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư cho phần lớn những dự án đầu tư ra nước ngoài (trừ những dự án đặc biệt quan trọng có tác động lớn đến an ninh, chính trị hoặc sử dụng nguồn vốn ngân sách cực lớn) có thể giúp tiết kiệm cho doanh nghiệp ít nhất 6 tháng chi phí cơ hội.
Nhiều quy định về chuyển vốn và sử dụng lợi nhuận cũng được nới lỏng theo hướng tôn trọng quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc quyết định hình thức, quy mô và tiến độ chuyển vốn ra nước ngoài (dựa trên cam kết tài chính và khả năng tự cân đối ngoại tệ).
Doanh nghiệp cũng có thể dùng lợi nhuận thu được từ dự án hiện hữu để tái đầu tư vào dự án mới mà không phải làm thủ tục xin phép phức tạp như trước… Danh mục ngành nghề cấm và ngành nghề có điều kiện được quy định rõ ràng, minh bạch hơn, giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro pháp lý ngoài ý muốn.